Người tàng trữ, sản xuất, mua bán ma túy khối lượng bao nhiêu thì bị phạt tử hình?

Người tàng trữ, sản xuất, mua bán trái phép chất ma túy khối lượng bao nhiêu thì bị phạt tử hình?

Hiện nay tội phạm về ma túy ngày càng có chiều hướng ra tăng mặc dù biết hình phạt đối với các tội này rất nghiêm khắc. Xin hỏi: Người tàng trữ, sản xuất, mua bán trái phép chất ma túy khối lượng bao nhiêu thì bị phạt tử hình? 

Người tàng trữ, sản xuất, mua bán trái phép chất ma túy khối lượng bao nhiêu thì bị phạt tử hình?
 

Trả lời: Kể từ ngày 01/7/2025, một số thay đổi quan trọng về hình phạt tử hình trong Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) đã có hiệu lực. Theo đó, hình phạt tử hình đã được bỏ đối với Tội vận chuyển trái phép chất ma túy (Điều 250 BLHS).

Tuy nhiên, hình phạt tử hình vẫn được duy trì đối với Tội mua bán trái phép chất ma túy (Điều 251 BLHS) và Tội sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 253 BLHS), với những khối lượng ma túy đặc biệt lớn. Đối với Tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Điều 249 BLHS), mức hình phạt cao nhất là tù chung thân, không có tử hình.

Dưới đây là khối lượng ma túy có thể bị phạt tử hình đối với Tội mua bán trái phép chất ma túy (Điều 251 BLHS) và Tội sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 253 BLHS) theo Khoản 4 của các điều luật này:

 
 

1. Tội mua bán trái phép chất ma túy (Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015)

 

Người nào mua bán trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

 
  • Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca: có khối lượng 05 kilôgam trở lên.

  • Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11: có khối lượng 100 gam trở lên.

  • Lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc lá cây côca: có khối lượng 75 kilôgam trở lên.

  • Quả thuốc phiện khô: có khối lượng 600 kilôgam trở lên.

  • Quả thuốc phiện tươi: có khối lượng 150 kilôgam trở lên.

  • Các chất ma túy khác ở thể rắn: có khối lượng 300 gam trở lên.

  • Các chất ma túy khác ở thể lỏng: có thể tích 750 mililít trở lên.

  • Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này.

2. Tội sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 253 Bộ luật Hình sự 2015)

Tương tự như Tội mua bán trái phép chất ma túy, người nào sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp có khối lượng ma túy nêu trên cũng sẽ đối mặt với mức hình phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình.

3. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015)

Đối với tội tàng trữ trái phép chất ma túy, hình phạt cao nhất là tù chung thân, không có hình phạt tử hình. Khối lượng ma túy để bị phạt tù chung thân là:

  • Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca: có khối lượng 05 kilôgam trở lên.

  • Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11: có khối lượng 100 gam trở lên.

  • Lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc lá cây côca: có khối lượng 75 kilôgam trở lên.

  • Quả thuốc phiện khô: có khối lượng 600 kilôgam trở lên.

  • Quả thuốc phiện tươi: có khối lượng 150 kilôgam trở lên.

  • Các chất ma túy khác ở thể rắn: có khối lượng 300 gam trở lên.

  • Các chất ma túy khác ở thể lỏng: có thể tích 750 mililít trở lên.

  • Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này.

Lưu ý quan trọng:

  • Việc áp dụng hình phạt tử hình còn phụ thuộc vào các tình tiết khác của vụ án, như vai trò của bị cáo, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (ví dụ: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tích cực hợp tác với cơ quan điều tra, cứu giúp người khác...). Tòa án sẽ xem xét toàn diện các yếu tố để đưa ra phán quyết cuối cùng.

  • Các quy định về khối lượng ma túy được tính toán rất chi tiết và phức tạp, thường cần có kết quả giám định pháp y để xác định chính xác loại và khối lượng chất ma túy.

Đây là những quy định rất nghiêm khắc của pháp luật Việt Nam nhằm đấu tranh mạnh mẽ với tội phạm ma túy, đặc biệt là các hành vi mua bán và sản xuất chất ma túy với số lượng lớn./….

Quy định của pháp luật về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Theo quy định tại Điều 51 BLHS hiện hành, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bao gồm:

- Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm;

- Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả;

- Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;

- Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết;

- Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội;

- Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra;

- Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra;

- Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn;

- Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;

- Phạm tội vì bị người khác đe dọa hoặc cưỡng bức;

- Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải do lỗi của mình gây ra;

- Phạm tội do lạc hậu;

- Người phạm tội là phụ nữ có thai;

- Người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên;

- Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng;

- Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;

- Người phạm tội tự thú;

- Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;

- Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án;

- Người phạm tội đã lập công chuộc tội;

- Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác;

- Người phạm tội là người có công với cách mạng hoặc là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ.

Có thể thấy, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được ghi nhận chủ yếu bắt nguồn từ việc người phạm tội có các hành vi thể hiện sự hối hận, hay làm giảm bớt, khắc phục hậu quả mình gây ra đối với nạn nhân. Hay các yếu tố về nhân thân như phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bản thân họ hoặc người thân của họ thuộc trường hợp người có công với cách mạng. Lúc này, chủ thể có thẩm quyền sẽ xem xét đến các yếu tố trên cùng với tính chất, hành vi của người phạm tội để giảm nhẹ hình phạt cho họ.

Bên cạnh đó, khi quyết định hình phạt, Tòa án có thể coi đầu thú hoặc “tình tiết khác” là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ lý do giảm nhẹ trong bản án. Trong đó, căn cứ Điểm 5 Mục I Công văn 212/TANDTC-PC năm 2019 và Nghị quyết 01/2000/NQ-HĐTP thì các "tình tiết khác" bao gồm:

- Vợ, chồng, cha, mẹ, con, anh, chị, em ruột bị cáo là người có công với nước hoặc có thành tích xuất sắc được Nhà nước tặng một trong các danh hiệu vinh dự như: anh hùng lao động, anh hùng lực lượng vũ trang, bà mẹ Việt Nam anh hùng, nghệ sỹ nhân dân, nghệ sĩ ưu tú, nhà giáo nhân dân, nhà giáo ưu tú, thầy thuốc nhân dân, thầy thuốc ưu tú hoặc các danh hiệu cao quý khác theo quy định của Nhà nước:

- Bị cáo có anh, chị, em ruột là liệt sỹ;

- Bị cáo là người tàn tật do bị tai nạn trong lao động hoặc trong công tác, có tỷ lệ thương tật từ 31 % trở lên;

- Người bị hại cũng có lỗi;

- Thiệt hại do lỗi của người thứ ba;

- Gia đình bị cáo sửa chữa, bồi thường thiệt hại thay cho bị cáo;

- Người bị hại hoặc đại diện hợp pháp của người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo trong trường hợp chỉ gây tổn hại về sức khoẻ của người bị hại, gây thiệt hại về tài sản;

- Phạm tội trong trường hợp vì phục vụ yêu cầu công tác đột xuất như đi chống bão, lụt, cấp cứu.

Và trong từng trường hợp cụ thể và hoàn cảnh cụ thể của người phạm tội mà Tòa án còn có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ trong bản án.

Tuy nhiên, nếu các tình tiết giảm nhẹ theo quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung tội phạm thì không được xem xét áp dụng khi quyết định hình phạt.

2. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có thể được áp dụng đối với các tội phạm về ma túy

Về bản chất các tội phạm về ma túy thường sẽ không có nạn nhân cụ thể trong vụ án. Do đó, sẽ không được xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự liên quan đến việc bồi thường, khắc phục thiệt hại cho nạn nhân.

Một số tình tiết giảm nhẹ mà người phạm các tội về ma túy có thể được xem xét áp dụng như phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, người phạm tội tự thú, người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hay thuộc các trường hợp như là người khuyết tật, người có công cách mạng, có anh, chị, em ruột là liệt sỹ.

Trên thực tế, tội phạm về ma túy thường sẽ khó được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bởi lẽ, khung hình phạt của của tội phạm ma túy thường rơi vào trường hợp nghiêm trọng cho đến đặc biệt nghiêm trọng, có tội với khung hình phạt cao nhất có thể là tử hình. Vì thế, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thường được xem xét áp dụng đối với tội phạm ma túy đó là người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

LS TRẦN MINH HÙNG